Nội dung trên được TAND Tối cao giải đáp sau khi tòa án cấp dưới nêu vướng mắc trong quá trình xét xử tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Theo tình huống được nêu, bị cáo khai trước khi tham gia giao thông không uống rượu, bia. Kết quả giám định xác định trong máu có nồng độ cồn 0,282 mg/100 ml nhưng không xác định được nguyên nhân phát sinh cồn.
Từ đó, tòa cấp dưới đặt vấn đề có được áp dụng tình tiết định khung tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự đối với trường hợp này hay không. Quy định này áp dụng với trường hợp "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định".
Phải chứng minh đã sử dụng rượu bia
Trong văn bản trả lời, TAND Tối cao cho rằng chỉ áp dụng tình tiết trên khi có căn cứ xác định bị cáo "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia".
Do đó, để áp dụng tình tiết định khung, kết luận giám định phải xác định rõ nồng độ cồn trong máu là do sử dụng rượu, bia hoặc có căn cứ khác chứng minh người phạm tội đã sử dụng rượu, bia.
"Trường hợp không có căn cứ xác định người phạm tội đã sử dụng rượu, bia thì không áp dụng tình tiết này", TAND Tối cao nêu.
Như vậy, việc trong máu có nồng độ cồn chưa đồng nghĩa người vi phạm đã sử dụng rượu bia.
Nêu quan điểm về hướng dẫn trên, luật sư Vũ Tiến Vinh (Công ty Luật Bảo An, Hà Nội) cho rằng quy định của Bộ luật Hình sự từ trước đến nay đều xác định tình tiết tăng nặng là trường hợp "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia...".
"Quan điểm của TAND Tối cao nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật trong xét xử", luật sư nói.
Theo ông Vinh, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh người phạm tội đã sử dụng rượu bia trước khi xảy ra tai nạn.
Việc này phải làm rõ người đó có uống rượu bia hay không, sử dụng khi nào, ở đâu và trong hoàn cảnh nào.
Chốt kiểm soát nồng độ cồn của lực lượng 141 Hà Nội. Ảnh: Gia Chính
Trách nhiệm chứng minh thuộc cơ quan tố tụng
Theo luật sư Vinh, nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị truy cứu không có nghĩa vụ phải tự chứng minh mình không uống rượu bia.
Do đó, nếu cơ quan tố tụng không chứng minh được việc sử dụng rượu bia thì dù kết quả giám định xác định trong máu có nồng độ cồn cũng không thể áp dụng tình tiết định khung này.
Liên quan thắc mắc về trường hợp không uống rượu bia nhưng trong máu vẫn có cồn do bệnh lý hoặc cồn nội sinh, luật sư cho rằng về mặt khoa học, cồn nội sinh là có nhưng hàm lượng rất nhỏ. Trong khi đó, người đã sử dụng rượu bia thì nồng độ cồn trong cơ thể thường cao hơn nhiều lần.
Tuy nhiên, việc viện dẫn cồn nội sinh sẽ khó được chấp nhận nếu cơ quan tố tụng có đủ chứng cứ chứng minh người vi phạm đã sử dụng rượu bia. Khi đó bị cáo phải chấp nhận các chứng cứ đã được điều tra, thu thập.
Hải Thư








