Ngày 30/8/2025
Trang chủ         |           Giới thiệu         |           Tuyển dụng         |           Tranh tụng         |           Tư vấn         |           Liên hệ
DANH MỤC
Tin, bài đáng chú ý
Hình sự
Dân sự
Đất đai - Nhà ở
Hôn nhân và Gia đình
Thừa kế
Doanh nghiệp
Lao động
Hành chính
Thuế - Ngân hàng
Thông báo
VITV
Đài truyền hình Việt nam
http://vnexpress.net
Tạp chí điện tử Tri thức trực tuyến
Báo Giáo dục

 

Visitors: 748679
Online: 11
Đất đai - Nhà ở
Mua chung đất, khi bán phần của mình có phải báo với đồng sở hữu? ( 18/8/2025 )

 

Năm 1995, tôi trúng đấu giá và đứng tên một thửa đất của xã nhưng chưa có sổ đỏ. Năm 1997, tôi và một người bạn làm giấy tờ viết tay mua chung thửa đất trên.

Giấy thể hiện tôi chuyển nhượng cho bạn quyền sử dụng nửa diện tích đất, chú thích rõ diện tích sử dụng chia đôi bằng hình vẽ.

Văn bản này cũng xác nhận tôi đã nhận đủ tiền, được địa chính và UBND xã làm chứng và xác nhận sự phân chia này.

Tôi từ đó thực hiện nghĩa vụ thuế đất hằng năm cho phần mình (50%), không có tranh chấp gì suốt 20 năm.

Nhưng đến 2017, bạn bán phần đất này cho người khác mà không nói gì cho tôi biết. Đến tận bây giờ, toàn bộ khu đất vẫn chưa được cấp sổ đỏ và vẫn đứng tên một mình tôi.

Tôi bảo bạn bán đất chưa sổ đỏ là trái luật, nhưng bị hỏi vặn lại là lúc bán đất cho ông ấy, cũng đã có sổ đâu nên là tôi cũng sai. Tôi thì nghĩ là việc đó được xã xác nhận rồi, có gì mà sai.

Vậy xin được tư vấn cho tôi mấy việc:

- Việc tôi sang tên đất cho ông bạn tôi như thế có được pháp luật công nhận không?

- Việc bạn tôi sang tên phần đất của ông ấy cho người khác mà không được sự đồng ý của tôi có đúng luật không? Giao dịch của ông ấy với người ta liệu có được pháp luật công nhận không?

Giờ tôi cũng chẳng tham gì phần đất đã sang tên cho bạn, chỉ muốn là rõ ràng về mặt quyền lợi với một nửa đất của mình. Nếu muốn vậy, bây giờ tôi nên giải quyết thế nào?

Độc giả Tư Huân

Luật sư tư vấn:

Theo quy định của pháp luật, về nguyên tắc, giao dịch dân sự nói chung và giao dịch dân sự về đất đai nói riêng phải tuân thủ pháp luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm giao dịch được xác lập. Do vậy, đối với việc bạn chuyển nhượng một phần hai thửa đất cho người bạn của bạn vào năm 1997 thì phải áp dụng Luật Đất đai năm 1993 để giải quyết.

Theo khoản 2 Điều 31 Luật Đất đai 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực của cơ quan có thẩm quyền và phải đăng ký trước bạ sang tên theo quy định.

Đối với trường hợp bạn nêu, hai bên đã lập giấy viết tay chuyển nhượng một phần hai thửa đất, có xác nhận của địa chính và UBND xã, đất có nguồn gốc đấu giá hợp pháp, không tranh chấp.

Người dân làm thủ tục hành chính chuyển đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Trung tâm dịch vụ hành chính công phường Thanh Khê, TP Đà Nẵng, tháng 6/2025. Ảnh: Nguyễn Đông

Người dân làm thủ tục hành chính chuyển đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Trung tâm dịch vụ hành chính công phường Thanh Khê, TP Đà Nẵng, tháng 6/2025. Ảnh: Nguyễn Đông

Theo Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 và Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP (sửa đổi bởi khoản 54 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP), các giao dịch trước 01/7/2014 có giấy tờ hợp lệ và UBND cấp xã xác nhận vẫn được công nhận, có thể làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, việc chuyển nhượng đất giữa hai bên như bạn trình bày có thể được pháp luật công nhận và đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hai thửa riêng biệt) mà không bị tuyên vô hiệu.

Cũng bởi vậy, sau khi nhận chuyển nhượng, người bạn của bạn có thể chuyển nhượng cho người khác mà pháp luật không đòi hỏi phải có sự đồng ý của bạn. Còn giao dịch đó có được pháp luật công nhận hay không đó là chuyện nội bộ giữa hai bên chuyển nhượng mà không liên quan gì đến bạn. Hơn nữa, trong giao dịch chuyển nhượng giữa bạn và bạn của bạn cũng không có thỏa thuận nào khi người bạn chuyển nhượng cho người khác phải thông báo cho bạn biết hay được sự đồng ý của bạn.

Theo Điều 167, 188 Luật Đất đai 2013, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ hợp pháp khi được công chứng/chứng thực và đăng ký biến động theo quy định. Nếu không tuân thủ quy định này có thể bị xem xét vô hiệu.

Tuy nhiên, giải quyết thực trạng mua bán không tuân thủ về mặt hình thức (viết tay, không được công chứng, chứng thực), Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép Tòa án có thể công nhận giao dịch vi phạm hình thức nếu các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ(đã trả tiền, bàn giao đất, xây dựng công trình trên đất, sử dụng ổn định, không tranh chấp).

Song đây là tranh chấp (nếu có) giữa người bạn của bạn với người mua đất chứ không liên quan gì đến bạn. Bạn không có quyền yêu cầu chấm dứt hoặc đưa ra các điều kiện buộc các bên phải tuân theo.

Để giải quyết vấn đề bạn nêu, các bên cần liên hệ với Văn phòng đăng ký đất đai nơi có đất, nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo pháp luật hiện hành (Luật Đất đai năm 2024) để được pháp luật công nhận quyền sử dụng đất mà mỗi người đang quản lý, sử dụng.

Luật sư Nguyễn Thị Phương Hoa
Công ty Luật Bảo An, Hà Nội

Nguồn: https://vnexpress.net/mua-chung-dat-khi-ban-phan-cua-minh-co-phai-bao-voi-dong-so-huu-4926999-p2.html

 

Số lượt đọc: 47
Gửi bài viết qua email In bài viết Gửi phản hồi
Các chuyên đề khác
• Sổ đỏ vênh diện tích so với thực tế, bên bán hay người mua chịu trách nhiệm? ( 7/7/2025 )
• Làm sao để tránh bị 'trở mặt' khi nhờ người đứng tên mua nhà? ( 23/6/2025 )
• Sổ đỏ sai kích thước các cạnh nhưng diện tích đúng, có phải đổi lại? ( 5/5/2025 )
• Có được 'đuổi đi' để bán nhà khi đang cho thuê dài hạn? ( 3/4/2025 )
• Sổ đỏ có nhà sẽ 'nhiều quyền' hơn sổ đỏ chỉ có đất? ( 27/3/2025 )
• Đính chính diện tích sổ đỏ, có phải nộp phí cho phần đất chênh lệch? ( 6/1/2025 )
• Nhà tình nghĩa có được chuyển nhượng? ( 26/11/2024 )
• Có được tách thửa đất 70 m2 ở Hà Nội để xây hai nhà 35 m2? ( 23/10/2024 )
• Quá hạn sang tên sổ đỏ bị phạt tới 3 triệu đồng? ( 17/10/2024 )
• Xây nhà xong, có bắt buộc đăng ký tài sản trên đất vào sổ đỏ? ( 22/8/2024 )
Liên kết
Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Đoàn luật sư TP. Hà Nội

Ngày 30/8/2025
Trang chủ         |           Giới thiệu         |           Tuyển dụng         |           Tranh tụng         |           Tư vấn         |           Liên hệ
CÔNG TY LUẬT BẢO AN
Địa chỉ: Phòng 302 tòa nhà số 11 ngõ 183 Đặng Tiến Đông, phường Đống Đa, TP. Hà Nội.
Điện thoại: 024.6276 4938,  Mobile/Zalo: 0945 888 668 
Email: luatbaoan@gmail.com
website: www.luatbaoan.vn - www.luatbaoan.com.vn - www.luatbaoan.com
Thiết kế web bởi haanhco.,ltd